back arrow

Tứ vô lượng tâm

10 - 08 - 2025

Trong đạo Bụt có một giáo lý rất đầy đủ và thâm sâu về tình thương. Tình thương này có năng lượng trị liệu. Từ, bi, hỷ, xả không phải là những ước muốn, những mục tiêu xa xôi, mà là sự thực tập. Từ không phải chỉ là ước muốn đem lại hạnh phúc cho người. Từ chính là khả năng, là sự thực tập có thể đem lại hạnh phúc cho người. Có người càng thương thì càng làm cho người kia khổ. Thương như vậy chưa phải là từ. Có ý chí thương nhưng không có khả năng thương. Bi cũng vậy. Bi là ước muốn và cũng là khả năng làm vơi nỗi khổ. Hỷ là ước muốn và khả năng tạo hạnh phúc cho mình và cho người. Xả tức là ước muốn, khả năng hiến tặng tự do và sự không kỳ thị cho người và cho chính mình.

Ta không thể hiểu được bản chất của tình thương trong đạo Bụt nếu không đặt giáo lý tình thương đó trong Bát chánh đạo. Nếu không thực tập Bát chánh đạo thì ta không thể thực tập được tình thương. Trong đạo Bụt, chánh niệm rất quan trọng. Chánh niệm là khả năng thấy được những gì đang xảy ra trong ta và xung quanh ta. Chánh niệm cho chúng ta thấy được nhu yếu chuyển hóa khổ đau và nhu yếu hiến tặng niềm vui cho người đang khổ. KHI MỘT NGƯỜI LÀM CHO TA KHỔ THÌ CHÍNH NGƯỜI ĐÓ CŨNG ĐANG BẤT AN; PHẢN ỨNG CỦA TA CÓ THỂ LÀM CHO NGƯỜI ĐÓ THÊM KHỔ, VÌ THẾ LẠI LÀM KHỔ CHÍNH TA HƠN. Khả năng giúp ta nhận chân ra sự thật đó là chánh niệm. Lắm khi người đó chính là mình. Từ, bi, hỷ, xả phải thực hiện cho chính mình trước. Nếu ta không có bốn tâm đó trong ta thì ta không thể nào hiến tặng chúng cho người khác. Phải đầu tư, phải gây vốn cho bốn tâm vô lượng. Vốn liếng của ta là công phu thực tập Tứ diệu đế. Đi thiền cho đúng phép, có an lạc trong từng bước chân, nuôi dưỡng từng tế bào của thân thể bằng hơi thở chánh niệm, đó là ta đang tự thương mình. Thương mình đích thực, ta làm cho rã bớt những nỗi sầu khổ, tưới vào bản thân những niềm vui. Truyện Kiều có hai câu nói về lòng tự thương, nhưng hoàn toàn tiêu cực. Đó là hồi Kiều ở lầu Ngưng Bích, đau đớn và thương xót cho thân phận của mình:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa.

Thương mình ở đây là xót xa tội nghiệp cho thân phận của mình. Niềm xót xa này không có khả năng chữa trị được đau khổ, không đem lại hạnh phúc. Trong khi đó, thương theo phương pháp Bụt dạy phải được thực hiện trong mỗi hành động, mỗi cái nhìn, mỗi nụ cười, mỗi hơi thở, mỗi bước chân. Mỗi động tác hằng ngày đều phải nhắm tới mục đích thương mình và thương những người xung quanh. Buổi sáng nhìn mặt trời lên, nghe chim hót, có chánh niệm, ta mỉm cười, ta thấy những thứ đó đều mầu nhiệm. Xúc và thọ cần nuôi dưỡng và mang tới thân tâm chúng ta chất liệu của từ, bi, hỷ, xả. Nếu thức dậy mà không thấy được giá trị của một tia nắng sớm, không thấy hai mươi bốn giờ tinh khôi hiến tặng cho mình, thì xúc và thọ như vậy là không có chánh niệm và không nuôi dưỡng được tình thương trong con người mình. Nếu ta không tự thương ta được thì ta không có khả năng thương người khác. TÌNH THƯƠNG NGƯỜI TA THƯỜNG NÓI TỚI CÓ THỂ CHỈ LÀ SỰ ĐẮM ĐUỐI, VƯỚNG MẮC, LÀ NĂNG LƯỢNG KÉO NHAU XUỐNG VỰC THẲM CỦA BIẾN KHÁT ÁI, chứ không phải là tình thương đích thực.

Nuôi dưỡng mình và nuôi dưỡng người xung quanh bằng tình thương, đó là sự thực tập của chúng ta. Tình thương đó căn cứ trên nhu yếu của thân và của tâm. Nhờ chánh niệm chúng ta mới biết được nhu yếu được thương, được có hạnh phúc, được chuyển hóa, được có thêm tự do, cho nên công phu hằng ngày chúng ta phải hướng đến sự thực tập đó. Và tình thương được nói tới ở đây là tình thương phát xuất từ tuệ. Nếu không hiểu biết thì không thể thương yêu. BẢN CHẤT CỦA TỪ BI LÀ TRÍ TỤÊ. THƯƠNG MÀ KHÔNG HIỂU THÌ LÀM KHỔ VÀ CÓ THỂ GÂY THƯƠNG TÍCH CHO NGƯỜI MÌNH THƯƠNG. Ví dụ tôi rất sợ mùi sầu riêng. Nếu có sư chú nói: Thầy đang mệt, nếu ta mời thầy ăn sầu riêng thì thầy sẽ khỏe. Bắt tôi ăn sầu riêng sẽ chỉ làm khổ tôi. Đó là thương mà không hiểu. Muốn hiến tặng niềm vui cho người, ta phải hiểu người. Con mắt chánh niệm phải quán sát. CƯ XỬ VỚI CON CÁI CŨNG VẬY, CHA MẸ CŨNG VẬY, CŨNG CẦN PHẢI QUÁN CHIẾU, PHẢI CÓ TỤÊ ĐỂ BIẾT ĐƯỢC CÁI ĐÓ CÓ THỰC SỰ ĐEM LẠI HẠNH PHÚC HAY KHÔNG. Quán chiếu để thấy được nhu yếu đích thực của người đó để chúng ta hiến tặng những gì mà người đó đang thật sự cần. Chúng ta có thể nói rằng trong đạo Bụt, thương yêu được làm bằng chất liệu hiểu biết. Mà hiểu biết là hoa trái của chánh niệm, của thiền quán.

Nguyên tắc thực tập Tứ diệu đế phải được áp dụng ở đây. Trước hết ta nhìn vào để thấy những nỗi khổ. Sau khi nhận diện được sự thật thứ nhất về khổ, ta mới tìm ra được những nguồn gốc xa gần của khổ, tức là ta quán chiếu tập. Và chỉ khi nắm được hai sự thật đầu ta mới biết con đường nào giúp người vượt qua những khổ đau, biết được diệt và đạo. Thực tập Tứ diệu đế là thực tập tình thương. Bụt là một bậc trí và bi viên mãn. Nếu bi viên mãn thì trí cũng viên mãn, và nếu trí viên mãn thì bi cũng viên mãn. Hai là một, một là hai. Nếu hiểu được thân phận của người hải tặc thì ta cũng sẽ thương được người hải tặc. Trong kinh Bát đại nhân giác, Bụt nói rằng một vị Bồ tát không đem tâm ghét những người đã làm điều ác. Những điều kiện xã hội, kinh tế, chính trị, những vô minh, căm thù đã được chứa chất từ lâu, đã đưa tới hành vi ác độc của người hải tặc kia. Thấy được nguyên do đó, ta có thể khởi được lòng từ bi, thương được người đã làm ác. “Bất tắng ác nhân” là bốn chữ trong kinh Bát đại nhân giác. Làm sao ta hiểu được bốn chữ “không ghét người ác” nếu ta quên tình thương, nếu ta chỉ dùng trí năng khô khan để học Bụt? Trí năng khô khan gọi là càn tuệ, dried knowledge. Tình thương chỉ có thể làm bằng hiểu biết, bằng tuệ giác chân thật, chữ Phạn là Prajñā, phiên âm là Bát nhã. Bát nhã là hoa trái của sự quán chiếu. NHÌN VÀO MÌNH, VÀO NGƯỜI KIA, THẤY ĐƯỢC NHỮNG NIỀM ĐAU, VÀ NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG NIỀM ĐAU, TA CHẤP NHẬN CHÍNH MÌNH, CHẤP NHẬN NGƯỜI KIA, TA KHÔNG GIẬN MÌNH, KHÔNG GHÉT NGƯỜI. VÌ THẤY ĐƯỢC NHỮNG NGUYÊN DO SÂU XA CỦA MỌI HÀNH ĐỘNG NÊN TA THẤY THƯƠNG MÌNH VÀ THƯƠNG NGƯỜI. TA CHẤP NHẬN NHỮNG YẾU KÉM, NHỮNG KHỔ ĐAU CỦA MÌNH VÀ TA CHẤP NHẬN NHỮNG YẾU KÉM, KHỔ ĐAU CỦA NGƯỜI KIA. Chất liệu của từ phát xuất từ trái tim, và tưới trở lại cho trái tim. THỰC TẬP TỪ VÀ BI TRÊN CĂN BẢN HIỂU BIẾT THÌ KHÔNG BAO GIỜ VƯỚNG MẮC VÀO TÌNH THƯƠNG CHIẾM HỮU (POSSESSIVE LOVE). THƯƠNG MÀ KHÔNG HIỂU THÌ CHỈ GIAM NHAU VÀO NGỤC TÙ, TỰ GIAM MÌNH VÀO NGỤC TÙ VÀ LÀM KHỔ LẪN NHAU. NGƯỜI NÀY LẬP RA NHÀ TÙ NHỐT NGƯỜI KIA VÀO CŨNG CHỈ VÌ CÓ THIỆN CHÍ, HỌ NÓI RẰNG MÌNH CHỈ CÓ HẠNH PHÚC KHI Ở TRONG NHÀ TÙ ĐÓ. HỌ MUỐN MÌNH PHẢI LÀM CÁI NÀY CÁI NÀY, VÀ KHÔNG ĐƯỢC LÀM CÁI NÀY CÁI NÀY. CHỒNG VỚI VỢ, CHA MẸ VỚI CON, BẠN BÈ VỚI NHAU, KHI THƯƠNG NHAU CHÚNG TA THƯỜNG VẪN GIAM NHAU VÀO NGỤC TÙ, MỚI NHÌN THÌ RẤT ÊM ÁI. Sở dĩ ta giam nhau vào ngục tù vì ta không biết được nhu yếu sâu xa đích thực của chính bản thân ta và của những người ta thương.

Bụt dạy rằng: tình thương được làm bằng hiểu biết. Nhưng vì hiểu rõ tâm của chúng sinh nên Bụt còn đi xa hơn nữa. Ngài nói rằng trong tình thương chân thật phải có niềm vui. Nếu không có niềm vui thì ta biết đó chưa phải là từ, chưa phải là bi. Đây là một phương pháp khác nữa để nhận diện tình thương chân thật: sự có mặt của niềm vui vô cầu, không vị lợi. Tu không phải là từ bỏ niềm vui. Niềm vui của người tu không phải chỉ phát sinh khi thấy người khác thành đạt và có hạnh phúc, mà cả khi thấy mình nhẹ nhàng, thảnh thơi và có hạnh phúc. Tại sao ta lại tự kỳ thị mình? Khi tôi bước những bước thiền hành thảnh thơi, tôi tiếp xúc với nắng, với tiếng chim, với tăng thân, tôi được nuôi dưỡng, thư thái, đó là niềm vui. Bụt dạy chúng ta phải nuôi dưỡng thân tâm bằng niềm vui và sự nhẹ nhàng. Làm như vậy cũng là thực tập thương yêu.

Để tôi ngưng một vài phút và đọc cho quý vị nghe một bài thơ tình của Vũ Hoàng Chương. Đọc để thấy tình yêu vướng mắc, và tình yêu chiếm hữu có thể tạo nên khổ nghiệp thế nào. Những năm trước khi tịch, Vũ Hoàng Chương có nhiều bài thơ về đạo rất hay, rất đạt. Nhưng thời còn trẻ ông đau khổ lắm, ông viết những tập Thơ Say, Thơ Điên, Mây. Đây là một bài viết năm 1940, trong tập Thơ Say, trong đó thi sĩ nhớ tiếc người yêu mà ông gọi là “Tố của Hoàng”:

Trăng của nhà ai, trăng một phương

Nơi đây rượu đắng, mưa đêm trường.

Nghe hai câu đầu, ta đã thấy khổ. Ở đây chỉ có trời mưa suốt đêm, và một mình uống rượu say mèm, trong lòng đầy khổ đau tâm sự. Ở đây không có trăng. Rượu thì có chất cay đắng. Rượu cay đắng hay tình cay đắng?

Ừ đêm tháng sáu, mười hai nhỉ?

Tố của Hoàng ơi! Hỡi nhớ thương!

Mười hai tháng sáu là ngày tan nát, ngày cô nàng bỏ đi lấy chồng.

Là thế, là thôi, là thế đó

Mười năm, thôi thế mộng tan tành!

Mười năm trăng cũ ai nguyền ước?

Tố của Hoàng ơi! Tố của anh!

Chúng ta thấy ngã và ngã sở. Yêu thương một người, người đó phải thuộc về mình, đó là ngã sở. Tố của Hoàng ơi! Tố của anh. You are mine! Mười năm chỉ sống trong mộng cho nên khi mộng tan tành mới khổ.

Tháng sáu, mười hai từ đấy nhé

Chung đôi, từ đấy nhé lìa đôi.

Em xa lạ quá, đâu còn phải

Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi.

Bây giờ anh đi thất thểu bên bờ hồ Hoàn Kiếm; có gặp anh, cô ta cũng không thèm nhìn. Ngày xưa, Tố là của Hoàng. Nhưng bây giờ, đời là vô thường mà, Tố đâu còn phải là ngã sở của Hoàng nữa?

Hoàng xưa và Tố xưa là một Hoàng khác và một Tố khác. Hoàng bây giờ là Hoàng khác, mà Tố cũng là Tố khác rồi. Vô thường và vô ngã. Mình của phút này đã không còn là mình của phút trước, huống hồ là từ ngày mười hai tháng sáu cho tới bây giờ.

Men khói đêm nay sầu vũng mộ

Bia đề tháng sáu, ghi mười hai

Tình ta tha thiết, cuồng, ta khóc

Tố của Hoàng, nay, Tố của ai?

Giờ đây anh chàng khóc như điên. Tình thương mà đưa tới cuồng điên là tình thương mù quáng, không thấy được bản chất vô thường và vô ngã. Xưa Tố của Hoàng, nay Tố của ai?

Bốn câu tiếp nhắc sự tích Trang Tử khi vợ chết không khóc, ông gõ trên thành chậu mà hát một bài gọi là Cổ Bồn Ca:

Tay gõ vào bia, mười ngón dập

Mười năm theo máu hận trào rơi

Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp

Khúc Cổ Bồn Ca, gõ hát chơi.

Kiều Thu hề Tố em ơi!

Ta đang lửa đốt tơi bời Mái Tây.

Mái Tây tức là Tây Sương, tên một vở tuồng kể lại một chuyện tình nổi tiếng. Khi tình thương gây đau khổ, gây lửa cháy trong lòng như vậy, thì tình thương đó là tình thương gây tàn phá, tạo khổ đau.

Hàm ca nhịp gõ khói bay

Hồ, xừ, xang, xế, bàn tay điên cuồng

Kiều Thu hề trọn kiếp thương!

Sầu cao ngùn ngụt mấy đường tơ khô

Xừ, xang, xế, xự, xang, hồ

Bàn tay nhịp gõ, điên rồ khói lên

Kiều Thu, hề! Tố hỡi em!

Nghiêng chân rốn bể mà xem lửa bùng

Xế, hồ, xang,… khói mờ rung

Nhịp vươn sầu tỏa năm cung ngút ngàn.

Đây là một bài thơ tình rất hay, vì đọc xong người ta sẽ thấy nát gan nẫu ruột, và bị cuốn vào trong cơn đau khổ cuồng si của thi sĩ. DÙNG CHÁNH NIỆM ĐỂ QUÁN CHIẾU TA SẼ THẤY TÌNH YÊU Ở ĐỜI THƯỜNG DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG ĐÓ. VÌ TÌNH YÊU VÔ MINH CÓ RẤT NHIỀU ÁI THỦ TRÓI BUỘC, ĐƯA ĐẾN GIẬN HỜN, TAN VỠ, TẠO RA KHỔ ĐAU CHO CẢ HAI NGƯỜI – THƠ TÌNH CŨNG CÓ THỂ LÀM HẠI CẢ ĐỘC GIẢ NỮA NẾU ĐỘC GIẢ CŨNG CHÌM ĐẮM TRONG “THÚ ĐAU THƯƠNG”, QUÊN THỰC TẬP CHÁNH NIỆM.

Chúng ta cần phân biệt tình thương trong sáng khỏe mạnh và tình thương mê đắm vướng mắc. Phải quán chiếu để nhận diện xem trong tình thương có chất liệu của từ, của bi, và của hỷ hay không. Nếu hoàn toàn trong ấy không có chất liệu nào của từ, bi và hỷ thì tình thương đó chắc chắn đang và sẽ tạo đau khổ. Nếu chất liệu của từ, bi và hỷ còn quá ít thì người ta vẫn còn đang đi theo con đường của vướng mắc, của sầu hận, của khổ đau và đày đọa. Cho nên ta phải thực tập mỗi ngày để chuyển hóa các yếu tố tiêu cực của tình thương, và nuôi dưỡng chất liệu từ, bi, hỷ, xả càng ngày càng lớn.

Bây giờ chúng ta nói tới yếu tố thứ tư là xả. Thường thường chúng ta dịch xả là buông bỏ, là không vướng mắc. Có khi chúng ta dịch là không phân biệt, không kỳ thị. Bản chất của xả là bất nhị. Định nghĩa hay nhất của xả là tự do. Một tình thương chân thật là một tình thương có chất liệu tự do. Người thương có tự do, và người được thương vẫn không mất tự do. Người đó không cần phải hội đủ những điều kiện nào đó mới được thương. Tôi thương anh không phải vì anh là người đồng bào máu mủ của tôi hay vì anh đã theo cùng một tôn giáo với tôi mà tôi thương. Tình thương không phân biệt như vậy là tình thương có xả. Trong tình thương đích thực này, người gọi là kẻ thù cũng được thương. Người ấy cũng đau khổ, cũng cần chuyển hóa khổ đau, cũng cần có hạnh phúc. Khi nhìn thấy được nhu yếu đó, ta thương được kẻ thù của ta. Khi đã thương được rồi thì ta đâu còn gọi người đó là kẻ thù nữa. Cho nên trong tình thương đích thực không có kẻ thù. Có những chủ thuyết nói rằng ta phải phân biệt bạn với thù, ta không được thương kẻ thù, chỉ được thương bạn thôi. Trong giáo lý đạo Bụt thì người nào khổ là mình thương, vì người đó cần tới tình thương.

Đây là một điều rất hay mà thầy Nhất Hạnh đã nói đến. Trong tình yêu đôi lứa việc bị “ái thủ trói buộc, đưa đến giận hờn, tan vỡ” là rất nhiều. Để thoát khỏi các trói buộc đau khổ này trong đời sống tình cảm, tôi sẽ thực hành một số điều sau:

  1. Nếu chưa chắc chắn kết hôn, không nên quan hệ tình dục
  2. Trong tình huống đối phương thay lòng, tìm đến các bạn tình khác để tận hưởng các khoái lạc về xác thịt. Nhờ điều 1 mà việc kết thúc mối quan hệ trở nên dễ dàng.
  3. Khi tìm kiếm bạn đời, tránh né những người con gái có nhan sắc, tránh né cả những người con gái xấu xí. Người phụ nữ phù hợp là người có dung mạo “vô hình” nghĩa là không có gì đặc biệt, nhìn qua một lần là quên, đó là tuyệt vời nhất. Lý do là dung mạo xấu hay đẹp đều khiến bản thân động lòng, đẹp thì đem lòng yêu thích, xấu thì đem lòng ghét bỏ. Dung mạo phù hợp nhất là dung mạo mờ nhạt, không có gì để người khác để ý.
  4. Nên tìm những người phụ nữ có chung quan điểm về tu tập. Cụ thể là tập trung vào thực hành thiền, các pháp thiền của Phật Thích Ca Mâu Ni hơn là các phương pháp khác.